Các Cơ Quan Ban Hành Chính Sách Công Là Gì *

Các Cơ Quan Ban Hành Chính Sách Công Là Gì *

Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thuộc Chính phủ theo Điều 3 Nghị định 10/2016/NĐ-CP (sửa đổi tại Nghị định 47/2019/NĐ-CP) như sau:

Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thuộc Chính phủ theo Điều 3 Nghị định 10/2016/NĐ-CP (sửa đổi tại Nghị định 47/2019/NĐ-CP) như sau:

Cơ cấu tổ chức của cơ quan thuộc Chính phủ

- Ban: Ban hoạt động theo chế độ thủ trưởng, không có con dấu riêng. Chỉ thành lập Ban khi khối lượng công việc cần phải bố trí từ 15 người làm việc là công chức, viên chức trở lên.

-Văn phòng: Văn phòng có con dấu riêng.

-Tổ chức sự nghiệp trực thuộc (nếu có).

Ban và Văn phòng được thành lập phòng hoặc tổ chức tương đương (sau đây gọi chung là phòng). Số lượng phòng thuộc Ban, Văn phòng được quy định cụ thể tại Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của từng cơ quan thuộc Chính phủ.

Trong trường hợp đặc biệt, nếu tổ chức trực thuộc có tên gọi khác, Chính phủ sẽ xem xét, quyết định cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan thuộc Chính phủ.

Số lượng cấp phó của các tổ chức, đơn vị:

- Ban và Văn phòng có từ 15 đến 20 người làm việc là công chức, viên chức được bố trí không quá 02 cấp phó; có trên 20 người làm việc là công chức, viên chức được bố trí không quá 03 cấp phó;

- Đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm một phần chi thường xuyên và đơn vị sự nghiệp do ngân sách nhà nước bảo đảm chi thường xuyên có từ 20 người làm việc là công chức, viên chức trở xuống được bố trí không quá 02 cấp phó; có trên 20 người làm việc là công chức, viên chức được bố trí không quá 03 cấp phó;

- Đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên, đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, số lượng cấp phó thực hiện theo Đề án tự chủ của đơn vị đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Tiêu chí thành lập phòng thuộc Ban, Văn phòng

- Công việc hoặc lĩnh vực do phòng thực hiện phải có nhiều mảng công tác và có quy trình quản lý riêng theo yêu cầu của đối tượng quản lý;

- Khối lượng công việc yêu cầu phải bố trí từ 07 người làm việc là viên chức trở lên. Đối với các cơ quan thuộc Chính phủ tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp thì số lượng người làm việc tối thiểu của phòng bao gồm viên chức và người làm chuyên môn, nghiệp vụ theo chế độ hợp đồng lao động theo cơ chế tự chủ.

Về số lượng cấp phó của phòng thuộc Ban, Văn phòng

Phòng có từ 07 đến 09 người làm việc là viên chức được bố trí 01 Phó Trưởng phòng, có từ 10 người làm việc là viên chức trở lên được bố trí không quá 02 Phó Trưởng phòng.

Như vậy, thông qua bài viết trên, Luật Hoàng Anh đã chỉ ra các quy định về vị trí, chức năng của các cơ quan thuộc Chính phủ. Trường hợp có thắc mắc quy định pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước, hãy LIÊN HỆ  cho chúng tôi để được TƯ VẤN MIẾN PHÍ .

Vị trí và chức năng của Cơ quan thuộc Chính phủ

1. Cơ quan thuộc Chính phủ do Chính phủ thành lập, có chức năng phục vụ nhiệm vụ quản lý nhà nước của Chính phủ; thực hiện một số dịch vụ công có đặc điểm, tính chất quan trọng mà Chính phủ phải trực tiếp chỉ đạo.

2. Cơ quan thuộc Chính phủ chịu sự quản lý nhà nước của Bộ quản lý ngành, lĩnh vực.

Một số khái niệm khác liên quan đến chính sách

Sau khi hiểu rõ chính sách là gì, 03 khái niệm sau liên quan đến chính sách mà chúng ta cần phải chú ý, cụ thể:

Nhằm đáp ứng mục tiêu giải quyết các vấn đề thực tiễn, thúc đẩy các giá trị ưu tiên thông qua chuỗi những hành động mang tính quyền lực nhà nước thì được gọi là chính sách Nhà nước.

Chính sách Nhà nước có vai trò gì?

- Thu hẹp sự chênh lệch giữa các ngành kinh tế, tạo môi trường phát triển ổn định, bền vững.

- Giảm khoảng cách giàu nghèo, bảo vệ người dân khỏi sự bất ổn kinh tế.

- Không chỉ vậy, các biện pháp bảo môi trường, tài nguyên thiên nhiên được đưa ra thông qua chính sách Nhà nước.

- Thúc đẩy phát triển kinh tế, giải quyết vấn đề việc làm cho người lao động….

Trên thực tế, chưa có bất kỳ văn bản pháp luật nào giải thích khái niệm chính sách công là gì. Tuy nhiên, về cơ bản chúng ta có thể hiểu chính sách công là sản phẩm của quyền lực chính trị được Nhà nước ban hành. Chính sách này được tạo thành thông qua các quyết định định hướng sự phát triển của đất nước trong mọi lĩnh vực, bao gồm kinh tế, xã hội, văn hóa, pháp luật….

Để có thể hiện thực hóa các mục tiêu phát triển đất nước đã đặt ra trước đó, chính sách công còn là giải pháp được Nhà nước xây dựng nhằm giải quyết các vấn đề tồn tại trong xã hội.

Chính sách công có vai trò như thế nào đối với pháp luật?

- Chính sách công là công cụ định hướng sự phát triển của hệ thống pháp luật.

So với hệ thống pháp luật, chính sách công luôn được xây dựng trước tiên với mục đích định hướng sự phát triển của hệ thống pháp luật khi ban hành.

Bên cạnh đó, chính sách công thể hiện những vấn đề về kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa... một cách cụ thể và khái quát. Vì vậy, chính sách này đóng vai trò dự báo xu thế và khả năng phát triển của xã hội, đồng thời giúp hệ thống pháp luật trở nên cụ thể và thực tiễn hơn, tăng hiệu quả sử dụng của hệ thống pháp luật.

- Chính sách công là nguồn, là nền tảng để xây dựng pháp luật.

Bên cạnh tính xã hội, chính sách công còn mang tính pháp lý, bởi khi điều chỉnh các quan hệ xã hội, chính sách công thể hiện quan điểm chính trị của Đảng, vì vậy pháp luật phải được ban hành để pháp lý hóa những quan điểm đó.

- Tạo điều kiện cho pháp luật được thực thi.

Bên cạnh tính quyền lực nhà nước, chính sách công còn mang tính quyền lực chính trị, vì vậy có tính ổn định tương đối tạo điều kiện cho pháp luật đi vào thực tế cuộc sống.

Có các loại chính sách cơ bản nào?

Về cơ bản, có 04 loại chính sách như sau:

Một kế hoạch hoặc hành động của chính phủ hoặc các cơ quan thể chế với mục đích cải thiện hoặc cải cách xã hội được gọi chung là chính sách xã hội.

4 đặc điểm cơ bản của chính sách xã hội:

Một số vai trò của chính sách xã hội:

- Chính sách xã hội tập trung vào con người với mục đích khai thác tiềm năng và nguồn lực để đảm bảo sự ổn định và phát triển của xã hội. Sự ảnh hưởng của chính sách xã hội đến sự phát triển của xã hội là rất lớn.

- Chính sách xã hội đóng vai trò phân tích các nhiệm vụ của chính phủ quốc gia, gia đình, xã hội, thị trường và các tổ chức quốc tế thông qua việc cung cấp các dịch vụ, hỗ trợ trong suốt cuộc đời con người.

Một số các dịch vụ như: Hỗ trợ trẻ em và gia đình, đi học và giáo dục, cải tạo nhà ở và các khu vực lân cận, giảm nghèo, hỗ trợ thất nghiệp, chăm sóc sức khỏe….

Mục đích của chính sách xã hội là để xác định và giảm thiểu bất bình đẳng trong việc tiếp cận các dịch vụ và hỗ trợ giữa các nhóm xã hội được xác định theo tình trạng kinh tế - xã hội, chủng tộc, dân tộc,....

- Chính sách xã hội góp phần đẩy lùi những phân hóa, mâu thuẫn, khác biệt xã hội. Đồng thời, phát huy khả năng của toàn xã hội vào những mục tiêu chung thông qua việc điều tiết các mối quan hệ xã hội trên mọi khía cạnh và lĩnh vực khác nhau.

- Thể hiện sự công bằng xã hội, đây là vai trò trọng yếu của chính sách này. Điều đó tạo nên một làn sóng tích cực, đẩy mạnh quá trình phát triển bền vững của xã hội.

Chính sách pháp luật là loại chính sách có vai trò hỗ trợ trong việc triển khai các chính sách khác được đưa vào đời sống thông qua việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và các phương tiện pháp lý khác. Tuy nhiên, tính độc lập được thể hiện rất rõ trong chính sách pháp luật.

Vai trò của chính sách pháp luật:

Không chỉ ở Việt Nam mà còn ở hầu hết quốc gia trên thế giới, chính sách pháp luật đóng vai trò vô cùng quan trọng và được xem là một trong những định hướng nghiên cứu của khoa học pháp lý và khoa học chính sách công của thế kỷ XXI.

Thực tế đã cho thấy, chính sách pháp luật là nền tảng và công cụ quan trọng để giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn của đời sống xã hội. Đồng thời, chính sách pháp luật còn xuyên suốt, là nền tảng vững chắc cho các loại chính sách khác.

Chính sách kinh tế là tập hợp các biện pháp và hành động do Chính phủ thực hiện để tác động đến hoạt động kinh tế của quốc gia, theo một kế hoạch và thời gian nhất định được xây dựng cụ thể.

Để đạt được các mục tiêu về kinh tế của quốc gia là mục đích chính mà chính sách kinh tế hướng đến.

Theo khoản 1 Điều 51 Hiến pháp năm 2013 quy định:

Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo

Chính sách kinh tế là một trong những chính sách cốt lõi, nền tảng được Nhà nước ta định hướng và xây dựng cho toàn bộ các chính sách của các lĩnh vực thuộc nền kinh tế khác.

- Chính sách kinh tế nhằm đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô.

- Chính sách kinh tế thương mại.

- Chính sách kinh tế đẩy mạnh quá trình tăng trưởng của nền kinh tế.

- Chính sách liên quan mật thiết đến phát triển kinh tế.

- Chính sách pháp lý với mục đích thiết lập hệ thống pháp luật, điều chỉnh các quan hệ xã hội trong hoạt động kinh doanh, sản xuất và các hoạt động khác trong nền kinh tế.

Một số chức năng cơ bản của chính sách kinh tế:

- Chức năng phân bổ: Giải quyết các vấn đề về phân bổ ngân sách.

- Chức năng ổn định: Kiểm soát lãi suất và lạm phát.

- Chức năng phân phối: Xây dựng chính sách thuế đáp ứng các tầng lớp và lĩnh vực khác nhau.

Chính sách tiền tệ là chính sách sử dụng các công cụ tín dụng và hối đoái để điều tiết việc cung ứng tiền cho nền kinh tế, với mục tiêu là ổn định tiền tệ, giảm lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế….

- Chính sách tiền tệ mở rộng (tiền tệ nới lỏng): Mức cung tiền tăng nhiều hơn so với bình thường thông qua ngân hàng nhà nước. Trong trường hợp, nền kinh tế suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao chính sách tiền tệ thường được sử dụng.

- Chính sách tiền tệ thu hẹp (tiền tệ thắt chặt): Là việc giảm mức cung tiền của ngân hàng nhà nước. Trong điều kiện nền kinh tế đang phát triển quá nhanh, lạm phát tăng cao thường áp dụng chính sách này.